Sức khỏe

Nhiễm trùng đường hô hấp ( Respiratory Tract Infection)

Nhiễm khuẩn đường hô hấp là tình trạng nhiễm trùng xảy ra ở đường dẫn khí do vi khuẩn hay virut, được chia làm hai dạng: nhiễm trùng đường hô hấp trên và nhiễm trùng đường hô hấp dưới.

Nhiễm trùng đường hô hấp trên bao gồm những cơ quan trên của đường hô hấp như mũi và họng, thường gây ra bởi virut và ít khi nghiêm trọng. Những bộ phận này giúp vận chuyển không khí từ bên ngoài vào khí quản và cuối cùng đến phổi để hô hấp diễn ra.

Nhiễm trùng đường hô hấp dưới, ngược lại, gồm khí quản, phế quản và phổi.

Viêm đường hô hấp trên

Viêm đường hô hấp trên là tình trạng nhiễm trùng cấp tính ở đường hô hấp trên do ảnh hưởng của các vi sinh vật gây bệnh. Bệnh thường xảy ra vào thời điểm giao mùa (khoảng tháng 9 đến tháng 3), lúc trời trở lạnh, độ ẩm trong không khí giảm thấp.

Virus là nguyên nhân chủ yếu gây nên viêm đường hô hấp trên. Trong đa số các trường hợp trẻ mắc bệnh do nhiễm các loại virus như Influenza, Parainfluenza, hợp bào hô hấp (RSV), Adenovirus, Rhinovirus, Enterovirus, Coronavirus…. Đôi khi còn có sự tham gia của các vi khuẩn như phế cầu ( Streptococcus pneumoniae), liên cầu nhóm A ( Streptococcus pyogenes), Hemophilus influenza, B. catarrhalis…

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH

Viêm đường hô hấp trên do nhiều căn nguyên khác nhau, có thể do dị ứng với thời tiết, với các loại dị nguyên khác nhau (kháng nguyên) có trong không khí, trong bụi hoặc tác động của hóa chất, khói thuốc lá (hút hoặc hít phải khói thuốc lá, thuốc lào do người khác nhả ra) hoặc do vi sinh vật gây bệnh (vi nấm, vi khuẩn, virut). Trong bài viết này xin được đề cập đến căn nguyên gây bệnh là vi khuẩn.

Bằng những nghiên cứu và thử nghiệm khoa học, người ta thấy đa phần nguyên nhân gây ra viêm đường  hô hấp trên là do các virus. Ngoài ra chúng ta có thể gặp các nguyên nhân khác như vi khuẩn, nấm, bụi, khí độc. Có thể kể ra đây một số loại vi rút điển hình như: virus Rhino, Corona, Á cúm Parainfluenza, Adeno, virus hô hấp hợp bào RSV. Một số loại vi khuẩn cũng thường gặp trong bệnh viêm đường hô hấp trên là liên cầu khuẩn tan máu nhóm A, phế cầu khuẩn, Haemophilus influenzae, một số loại nấm… Một số vi khuẩn thường gặp ký sinh ở đường hô hấp trên là họ cầu khuẩn, trong đó đặc biệt lưu ý là loại vi khuẩn phế cầu (Streptococcus pneumoniae); liên cầu, nhất là liên cầu nhóm A (Streptoccocus pyogenes); Hemophilus influenzae, B. catarrhalis, xoắn khuẩn Vencent, một số vi khuẩn họ vi khuẩn đường ruột như E.coli, Enterobacter, Citrobacter, thậm chí còn có cả trực khuẩn mủ xanh (Ps.aeruginosa), tụ cầu vàng (S. aureus). Ngoài vi khuẩn còn có loại vi nấm như Candida albicans cũng hay gặp gây bệnh ở đường hô hấp trên, điển hình nhất là bệnh tưa lưỡi.

Nhóm virus trên gây bệnh bằng cách cư trú ở chất nhầy niêm mạc mũi họng. Chúng sẽ nằm ở đó, xâm nhập vào tế bào niêm mạc, nhân bản rồi phá huỷ tế bào và lây lan sang tế bào bên cạnh. Cơ thể sẽ kháng cự lại với các kháng thể IgA sẵn có và đội quân bạch cầu bảo vệ. Thông thường sẽ có một vài tế bào niêm mạc hô hấp bị tổn thương và bị virus phá huỷ nhưng sau khoảng 2 tuần lớp tế bào mới lại mọc lên và đẩy lùi virus. Nhưng trong một số trường hợp, cơ thể tiêu diệt không hiệu quả, virus từ đường hô hấp trên sẽ nhân bản và xâm nhập xuống tận đường hô hấp dưới và vào máu gây nhiều bệnh biến thể khác.

Trong trường hợp căn nguyên do vi khuẩn thì ít khi vi khuẩn gây bệnh một mình mà chúng thường được khởi phát bằng sự nhiễm và gây viêm của một loại virus trước đó. Tỷ lệ cao thuộc về liên cầu khuẩn tan máu nhóm A. Đây là vi khuẩn hàng đầu gây biến chứng viêm cầu thận cấp ở trẻ em từ một viêm họng thông thường.

CÁC BIỂU HIỆN VÀ BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH

Viêm đường hô hấp trên được chia thành 2 loại: viêm đường hô hấp trên cấp tính và viêm đường hô hấp trên mạn tính.

Viêm đường hô hấp trên cấp tính: Bệnh thường xảy ra khi có một số yếu tố thuận lợi tác động vào như thay đổi thời tiết từ nóng sang lạnh; uống nước quá lạnh hoặc nước đá, kem, nằm, ngồi trước luồng gió lạnh của quạt hoặc điều hòa nhiệt độ… Triệu chứng gặp đầu tiên là sốt (có thể sốt nhẹ, đôi khi sốt cao kèm theo rét run), kèm theo sốt là ho, hắt hơi và chảy nước mũi. Cơn ho có khi chỉ húng hắng, có khi ho liên tục. Bệnh nhân là người lớn hoặc trẻ em lớn còn có triệu chứng bị đau họng khi nuốt, khi ăn. Chảy nước mũi là triệu chứng hay gặp, đặc biệt là ở trẻ nhỏ.

– Viêm đường hô hấp trên mạn tính: khi bị viêm đường hô hấp trên cấp tính mà không được điều trị hoặc điều trị không dứt điểm thì rất dễ dàng chuyển thành viêm đường hô hấp mạn tính. Triệu chứng của viêm đường hô hấp trên mạn tính là ho húng hắng, rát họng, nuốt thấy hơi vướng như có vật gì nằm trong họng, đặc biệt ở trẻ em là chảy nước mũi thường xuyên (một hoặc cả hai bên mũi). Một số trẻ em bị VA mạn tính kéo dài mà căn nguyên do trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeruginosa) thì chất nhày chảy ra ở mũi thường có màu xanh mà người ta hay gọi là “thò lò mũi xanh”. Ngoài thò lò mũi xanh, trẻ ngủ thường ngáy, thở bằng mồm. Ở người lớn, ngoài triệu chứng điển hình là rát họng, nuốt vướng còn có nghẹt mũi (một bên hoặc cả hai) do hiện tượng phì đại cuốn mũi… Trong những trường hợp viêm xoang thường có kèm theo triệu chứng đau đầu…

 

Viêm đường hô hấp trên không phải là một bệnh mà là một tổ hợp bệnh bao gồm: cảm lạnh, viêm mũi họng, viêm họng, viêm xoang, viêm thanh quản. Mặc dù có nhiều bệnh đơn lẻ khác nhau nhưng chúng đều có một số biểu hiện chung rất dễ nhận thấy. Những triệu chứng chủ yếu bao gồm: sốt cao, hắt hơi, sổ mũi, chảy mũi, ngạt mũi, tắc mũi, đau rát họng, ho, khàn tiếng, lạc tiếng, giọng mũi, khản đặc có khi mất tiếng, mệt mỏi, đau đầu, đau mỏi cơ khớp…

Đặc điểm quan trọng của viêm đường hô hấp trên là thời gian ủ bệnh ngắn, tốc độ biểu hiện bệnh nhanh và các biểu hiện mang tính ồ ạt. Chính vì thế mà sốt trong các bệnh của viêm đường hô hấp trên thường là sốt cao và thành cơn. Thân nhiệt thường là 39C trở lên. Đi kèm với sốt là hắt hơi, sổ mũi, người bệnh hắt hơi nhiều hơn mức bình thường, có khi đến 4-5 cái/một lần và xuất hiện nhiều lần trong ngày. Có khi hắt hơi đến rát cả mũi họng. Sau đó người bệnh sẽ bị chảy dịch mũi với đặc điểm dịch nhiều, trong, loãng, không có mủ và không có mùi hôi.

Khi virus gây bệnh ở thanh quản thì người bệnh sẽ bị khàn tiếng. Càng nói nhiều như ca sỹ, người bán hàng, giáo viên, nhân viên tiếp thị… thì tốc độ khàn tiếng càng nhanh và càng nặng vì dây thanh âm càng bị tổn thường nặng nề. Ban đầu chỉ là lạc tiếng, giọng mũi, sau đó tiếng bị khàn đục và có khi đến mất giọng.

Tuỳ thuộc vào cơ quan bị bệnh mà mỗi một mặt bệnh cụ thể đơn lẻ sẽ có những dấu hiệu điển hình và đặc thù khác nhau. Mặc dầu vậy, vì lý do giữa các bộ phận mũi-họng-thanh quản-xoang đều thông với nhau bằng đường khí và dịch nên khi một cơ quan bị bệnh thì nó sẽ nhanh chóng lây sang cơ quan liền kề và các triệu chứng sẽ nhanh chóng tổ hợp lại thành một hình ảnh bệnh lý đầy đủ.

Viêm đường hô hấp trên đa phần là những bệnh tự khỏi, chỉ sau 5-6 ngày là bệnh đã bắt đầu lui dần tiến tới khỏi sau 2 tuần. Mặc dù các bệnh này có mức độ lâm sàng trung bình nhưng lại là những căn bệnh phổ biến nhất khiến chúng ta phải ngừng lao động và trẻ em thì không thể đến trường và có thể nặng lên ở những đối tượng mẫn cảm như trẻ em dưới 1 tuổi, người già, người bị suy giảm miễn dịch và gây nhiều biến thể nghiêm trọng.

Một trong các biến thể nghiêm trọng ấy là tử vong do đồng nhiễm với bệnh đường hô hấp dưới và chúng tự làm nặng lẫn nhau. Biến thể cũng hay gặp đó là biến chứng viêm đường hô hấp dưới nếu viêm đường hô hấp trên không được xử trí đúng đắn và đúng mức. Do đó, với một bệnh hết sức thông thường như cảm lạnh trong mùa đông thì có thể đưa đến viêm phổi, nhất là ở trẻ em. Ngoài những biến chứng này thì viêm đường hô hấp trên thể nặng, thể do vi khuẩn dễ gây ra những biến chứng cơ thể khác như viêm não, viêm tim, viêm cầu thận, thấp khớp cấp. Vì vậy cần có thái độ dự phòng đúng mức với bệnh này.

PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH

Phòng bệnh hơn chữa bệnh – đây là câu nói rất phù hợp với mọi bệnh trong đó có bệnh viêm đường hô hấp trên. Điều này có liên quan mật thiết đến vệ sinh môi trường, vệ sinh hoàn cảnh. Đối với cá nhân, nhất là trẻ em và người cao tuổi cần mặc áo ấm, giữ ấm cổ vào những ngày gió lạnh. Cần vệ sinh răng miệng hàng ngày. Nên tập cho trẻ có một thói quen tốt là đánh răng trước và sau khi ngủ dậy. Khi ra đường nên đeo khẩu trang để hạn chế hít phải nhiều bụi, trong đó có những loại bụi có mang cả các dị nguyên và vi sinh vật. Tuyệt đối không hút thuốc lá, thuốc lào. Những gia đình dùng bếp than cần có biện pháp hạn chế đến mức tối đa hít phải khí độc do than khi đốt cháy thải ra. Những gia đình dùng bếp củi, rơm, rạ nên dùng loại bếp ít khói. Tóm lại cần tránh xa, không tiếp xúc với các loại khói càng tốt.

Hệ hô hấp của chúng ta được tính bắt đầu từ cửa mũi trước đến tận các phế nang trong phổi. Đường hô hấp trên bao gồm mũi, hầu, họng, xoang và cả thanh quản. Hệ thống hô hấp trên có chức năng chủ yếu là lấy không khí bên ngoài cơ thể, làm ẩm, sưởi ấm và lọc không khí trước khi đưa vào phổi. Các bộ phận của đường hô hấp dưới một phần chức năng thực hiện lọc không khí và phần chức năng còn lại là trao đổi khí.

Là cơ quan đầu ngoài cùng tiếp xúc với không khí nên hầu như mọi điều kiện bất lợi của môi trường đều do đường hô hấp trên gánh chịu hết như bụi, lạnh, nóng, hơi độc, kể cả các virus, vi khuẩn, nấm mốc. Bởi thế, nếu xét về tỷ lệ mắc bệnh hô hấp thì tỷ lệ bệnh mắc đường hô hấp trên chiếm phần lớn so với tỷ lệ mắc các bệnh về hô hấp khác. Viêm đường hô hấp trên là một chứng bệnh thường gặp hàng năm, mắc tái diễn, nhiều lần và là một chứng bệnh chủ yếu gây giảm giờ làm và giờ học của nhóm người mắc bệnh trên toàn thế giới. Mặc dù là loại bệnh “tự khỏi” nhưng những phiền toái do chúng gây ra cũng đủ tạo ra những thiệt hại đáng kể về sức khoẻ và kinh tế.

Bệnh viêm đường hô hấp trên thường xuất hiện theo mùa, nhất là mùa đông, mùa hanh khô, trùng với mùa của bệnh hen, viêm phế quản mạn, viêm phổi. Đối tượng mắc bệnh chủ yếu thường là trẻ em. Tính trên toàn thế giới, hàng năm có hàng triệu trẻ em mắc bệnh. Bên cạnh đối tượng là trẻ em, những người dễ mẫn cảm với viêm đường hô hấp trên bao gồm người bị bệnh bạch cầu (leukemia), suy tủy, suy giảm miễn dịch sau ghép tạng, điều trị ức chế miễn dịch ở những bệnh tự miễn, HIV… Vì thế, ở những đối tượng này cần được chăm sóc dự phòng, đặc biệt vào mùa lạnh, mùa hanh khô.

NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG HÔ HẤP DƯỚI

Viêm nhiễm đường hô hấp dưới thường được chia ra làm hai loại là:

  • Viêm phế quản câp: Đây là một tình trạng nhiễm trùng các đường dẫn khí lớn ở phổi (cây phế quản). Bệnh khá thường gặp và nguyên nhân thường do nhiễm siêu vi (virus). Nguyên nhân do vi khuẩn cũng có nhưng thường ít gặp hơn.
  • Viêm phổi: Đây là một tình trạng viêm nghiêm trọng ở phổi, thường gây ra bởi vi khuẩn. Việc điều trị bằng thuốc kháng sinh là cần thiết.

Bệnh rất thường gặp, có thể xảy ra quanh năm nhưng thường vào thời điểm thời tiết giao mùa như mùa mưa của các tỉnh thành phía nam và mùa lạnh ở các tỉnh thành phía bắc. Bệnh thường xảy ra sau khi bị cảm lạnh hoặc cảm cúm. Bất kì ai cũng có thể bị bệnh nhưng thường gặp hơn ở những đối tượng sau:

  • Trẻ nhỏ và người già
  • Người hút thuốc lá
  • Người mắc các bệnh lý mạn tính ở phổi như bị hen phế quản.

Triệu chứng của nhiễm trùng đường hô hấp dưới

Các triệu chứng chính là ho, khó thở và đau ngực. Bạn cũng có thể bị đau đầu và cảm giác nóng lạnh (sốt). Các triệu chứng của nhiễm trùng đường dẫn khí và nhiễm trùng phổi (viêm phổi) có thể tương tự nhau, tuy nhiên các triệu chứng của viêm phổi thường nặng nề hơn.

Nhiễm trùng đường dẫn khí ở phổi (viêm phế quản cấp) thường tự cải thiện, do đó thường không cần đi khám bác sĩ. Tuy nhiên, bạn nên đi khám khi gặp các triệu chứng sau:

  • Nếu bị sốt, khò khè hoặc đau đầu nặng lên hoặc đau nhiều.
  • Thở nhanh, khó thở hoặc đau ngực.
  • Ho ra máu hoặc đàm trở nên sậm màu hoặc có màu rỉ sét.
  • Lơ mơ hoặc lú lẫn.
  • Ho kéo dài hơn 3 – 4 tuần.
  • Hay có những đợt viêm phế quản tái phát.
  • Xuất hiện bất kì triệu chứng nào khác khiến bạn lo lắng.

Các xét nghiệm cần làm

Thông thường không có xét nghiệm nào là cần thiết nếu bạn bị viêm phế quản cấp và các triệu chứng nhẹ. Nếu các triệu chứng trở nặng và cần đến bệnh viện thì bạn cần làm các xét nghiệm sau:

  • X-quang phổi có thể được chụp để xác định mức độ nhiễm trùng.
  • Xét nghiệm máu và đàm có thể được thực hiện để tìm tác nhân gây viêm phổi nặng. Điều này giúp quyết định loại kháng sinh nào tốt nhất cần sử dụng. Do đôi khi vi khuẩn gây viêm phổi đề kháng với loại kháng sinh ban đầu nên cần phải đổi sang một kháng sinh khác.

Điều trị

Hầu hết các bệnh viêm đường hô hấp dưới thường là nhẹ và tự cải thiện. Nhưng một số trường hợp có thể trở nặng, và thậm chí có thể đe dọa tính mạng. Một đợt viêm phổi cấp thường khỏi sau 7 – 10 ngày mà không cần điều trị thuốc.

Nếu bị bệnh, bạn nên:

  • Nghỉ ngơi đầy đủ.
  • Uống nhiều nước để tránh cơ thể bị mất nước và giúp loãng đàm và dễ ho khạc ra.
  • Xông hơi nước, có thể pha thêm tinh dầu bạc hà có thể hỗ trợ giúp làm sạch đàm nhầy khỏi ngực.
  • Nằm ngửa vào ban đêm có thể dễ gây ứ đọng đàm nhầy và khó thở hơn.
  • Uống thuốc paracetamol, ibuprofen hoặc aspirin để giảm sốt và giảm đau nhức và đau đầu. (Lưu ý: trẻ em dưới 16 tuổi không nên uống aspirin).
  • Nếu bạn hút thuốc, bạn nên cố gắng ngưng hút thuốc sẽ tốt hơn. Viêm phế quản, viêm phổi và các bệnh lý nghiêm trọng ở phổi thường gặp hơn ở người hút thuốc.
  • Nếu bạn bị đau họng do ho nhiều, bạn có thể giảm đau họng với nước ấm có chứa chanh và mật ong.

Kháng sinh

Kháng sinh là các thuốc dùng điều trị nhiễm trùng gây ra bởi vi khuẩn và không hiệu quả trên siêu vi. Bởi vì viêm phế quản thường do virus, nên việc hồi phục hiếm khi liên quan đến uống kháng sinh. Sử dụng thuốc kháng sinh không cần thiết trong viêm phế quản có thể gây tác dụng phụ.

Viêm phổi, không như viêm phế quản, thường do vi khuẩn và có thể cần điều trị kháng sinh. Nếu bạn bị viêm phổi nhẹ, bạn có thể dùng kháng sinh tại nhà. Nếu viêm phổi nặng hơn, bạn cần được tiêm hoặc truyền thuốc kháng sinh tại bệnh viện.

Phòng ngừa viêm nhiễm đường hô hấp dưới

  • Che miệng khi ho hoặc hắt xì.
  • Rửa tay thường xuyên.
  • Vứt khăn giấy đã sử dụng sau khi dùng xong.
  • Chủng ngừa phế cầu khuẩn (vi khuẩn) – tác nhân vi khuẩn thường gặp gây viêm phổi – và chủng ngừa virus cúm mùa nếu bạn có nguy cơ cao bị nhiễm các tác nhân này.
  • Ngưng hút thuốc. Hút thuốc lá làm phá hủy lớp niêm mạc lót đường dẫn khí và làm phổi dễ bị nhiễm trùng hơn.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *