Sức khỏe

Cho trẻ ăn bổ sung đúng cách

Lời nói đầu

Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ nhưng ngoài 6 tháng tuổi, trẻ cần thêm nguồi dinh dưỡng từ bên ngoài gồm: Chất bột, chất đạm, chất béo và các vi chất dinh dưỡng để cao lớn, khỏe mạnh, thông minh. Thời kì ăn bổ sung là giai đoạn vàng trong quá trình phát triển của trẻ, tạo nền móng vững chắc cho sức khỏe và trí tuệ của trẻ sau này, chính vì thế đây là giai đoạn các bà mẹ cần quan tâm và phải chịu nhiều khó khăn vất vả.

Bài viết này giới thiệu về các nguyên tắc ăn bổ sung, cách lên thực đơn cho trẻ theo từng tháng tuổi và cách chế biến một số món ăn cho trẻ đến khi 2 tuổi. Trên 2 tuổi, trẻ đã kết thúc thời kì ăn bổ sung nhưng các chuyên gia của viện dinh dưỡng vẫn hướng dẫn chế độ ăn cho trẻ đến 5 tuổi vì ở giai đoạn này, trẻ vẫn cần được mẹ nấu các món ăn riêng.

Hy vọng bài viết này có thể giúp cho các bà mẹ biết cách cho con ăn bổ sung đúng cách và khoa học để trẻ phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần, phòng tránh suy dinh dưỡng thừa cân béo phì.

  1. Ăn bổ sung là gì?

Khi trẻ bắt đầu tập ăn những thức ăn khác ngoài sữa mẹ thì gọi là ăn bổ sung ( ăn dặm). Ăn bổ sung đúng cách có nghĩa là cho trẻ ăn bổ sung đúng thời điểm, thức ăn đầy đủ dinh dưỡng, an toàn và cách cho ăn phù hợp theo lứa tuổi.

2. Khi nào bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung?

Từ tháng thứ 6 trở đi (180 ngày), sữa mẹ dù có nhiều cũng không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ. Cho nên trẻ cần được ăn bổ sung để phòng ngừa các bệnh thiếu dinh dưỡng. Nhưng không nên cho trẻ ăn bổ sung quá sớm hoặc quá muộn.

Vì sao không cho trẻ ăn bổ sung quá sớm?

  • Trẻ sẽ bú mẹ ít hơn, sự tiết sữa giảm.
  • Thức ăn bổ sung thường loãng, không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng.
  • Trẻ nhận được ít các yếu tố miễn dịch từ sữa mẹ, tăng nguy cơ mắc bệnh nhất là tiêu chảy.
  • Hệ tiêu hóa của trẻ chưa hoàn thiện, ăn bổ sung sớm sẽ khiến đường ruột chưa đáp ứng kịp sẽ dẫn đến rối loại tiêu hóa như tiêu chảy, táo bón, biếng ăn, đầy hơi…

Vì sao không nên cho trẻ ăn bổ sung quá muộn?

  • Trẻ chậm tăng cân.
  • Thiếu vi chất dinh dưỡng.
  • Tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn.

   3. Một số nguyên tắc khi cho trẻ ăn bổ sung.

  • Cho trẻ ăn từ lỏng đến đặc, từ ít đén nhiều, tập cho trẻ quen dần với thức ăn mới.
  • Số lượng thức ăn và bữa ăn tăng dần theo tuổi, đảm bảo thức ăn hợp với khẩu vị của trẻ.
  • Chế biến các thức ăn hỗn hợp giàu dinh dưỡng, sử dụng các thức ăn sẵn có tại địa phương.
  • Bột cháo  của trẻ cần thêm nhiều loại thực phẩm khác nhau để tạo nên màu sắc thơm ngon hấp dẫn , đủ chất. Ví dụ: Cho thêm trứng để có màu vàng, thêm rau xanh để có màu xanh, thêm thịt thêm cua để có màu nâu.
  • Khi chế biến đảm bảo thức ăn mềm, dễ nhai, dễ nuốt.
  • Tăng năng lượng của thức ăn bổ sung: Có thể thêm dầu, mỡ hoặc vừng, lạc ( mè, đậu phộng) làm cho bát bột vừa thơm vừa béo, mềm trẻ dễ nuốt lại cung cấp thêm năng lượng giúp trẻ mau lớn.
  • Tất cả dụng cụ chế biến phải sạch sẽ, rửa tay sạch trước khi chế biến thức ăn và khi cho trẻ ăn.
  • Cho trẻ bú mẹ càng nhiều càng tốt.
  • Không cho trẻ ăn bánh kẹo, uống nước ngọt trước bữa ăn vì cho ăn chất ngọt sẽ làm tăng đường huyết gây ức chế tiết dịch vị làm cho trẻ chán ăn, trẻ sẽ bỏ bữa và ăn ít đi trong bữa ăn.

Tập cho trẻ ăn bổ sung trong những ngày đầu tiên như thế nào?

Ăn từ ít đến nhiều: 1 muỗng (15ml) → 2 muỗng (30ml) → 3 muỗng (45ml) → 4 muỗng (60ml) →…→ 1 bát.

Đầu tiên: Bột loãng, không nêm gia vị. Dùng vị ngọt tự nhiên trong nước luộc rau ( hành tây, cà rốt, bắp cải) và nước luộc thịt gà.

Từ từ: Thêm một chút rau (dùng lá), củ, quả.

Sau đó: Thêm cá, trứng hoặc thịt (ăn một thứ vài ngày cho quen dần).

       4. Chế độ ăn theo lứa tuổi

  • Nuôi trẻ < 6 tháng tuổi

Bú sớm trong vòng 1 giờ sau sinh.

Bú theo nhu cầu.

Bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu.

  • Nuôi trẻ từ 6 tới 12 tháng.
  1. Nuôi trẻ từ 6 tới 9 tháng tuổi

Cách cho ăn: Bú mẹ nhiều lần theo nhu cầu.

 

Ăn thêm 2 – 3 bữa bột đặc/ ngày

Ăn 2 – 3 bữa quả chín nghiền nát.

Thay đổi món.

Rau xanh: rau ngót, rau muống, rau cải, rau dền, mồng tơi, rau đay, ….

  • Mẫu thực đơn cho trẻ 6 – 9 tháng tuổi/ tuần.
Giờ Thứ 2, 4 Thứ 3,5 Thứ 6, cn Thứ 7
6h Bú mẹ Bú mẹ Bú mẹ Bú mẹ
8h Bột thịt lợn Bột thịt gà Bột thịt bò Bột trứng
10h Chuối tiêu 1/3 quả – 1/2 quả Đu đủ: 100g Hồng xiêm 1 quả Xoài 100g
11h Bú mẹ Bú mẹ Bú mẹ Bú mẹ
14h Bột trứng Bột cua Bột tôm Bột lạc
16h Nước cam* Nước cam* Nước cam* Nước cam*
18h Bột cá Bột đậu xanh + bí đỏ Bột thịt gà Bột gan (gan gà, lợn)

*: Cam 50 -100g ( nửa quả) và đường kính 5g ( 1 thìa cà phê)

Chú ý: từ 19h đến sáng hôm sau cho trẻ bú mẹ theo yêu cầu.

2. Nuôi trẻ từ 10 – 12 tháng tuổi

Cách cho ăn: Bú mẹ nhiều lần trong ngày (4 – 5 lần/ngày). Ăn 3 – 4 bữa bột đặc/ ngày. Ăn quả chín 2 – 3 lần/ ngày.

  • Mẫu thực đơn cho trẻ 10 – 12 tháng tuổi/ tuần.
Giờ Thứ 2, 4 Thứ 3, 5 Thứ 6, CN Thứ 7
6h Bú mẹ Bú mẹ Bú mẹ Bú mẹ
8h Bột thịt lợn Bột thịt gà Bột thịt bò Bột trứng
10h Chuối tiêu 1/2 quả – 1 quả. Đu đủ: 200g Hồng xiên 1 quả Xoài 200g
11h Bú mẹ Bú mẹ Bú mẹ Bú mẹ
14h Bột trứng Bột cua Bột tôm Bột lạc
16h Nước cam* Nước cam* Nước cam* Nước cam*
18h Bột cá Bột đậu xanh+bí đỏ Bột thịt gà Bột gan (gan gà, lợn)

*: Cam 50 -100g ( nửa quả) và đường kính 5g ( 1 thìa cà phê)

Chú ý: từ 19h đến sáng hôm sau cho trẻ bú mẹ theo yêu cầu.

  • Nuôi trẻ từ 1 – 2 tuổi

Cách cho ăn: Vẫn cho trẻ bú mẹ. Ăn 3 bữa cháo hoặc súp, cơm nát. Ăn quả chín theo yêu cầu của trẻ.

Mẫu thực đơn cho trẻ 1 – 2 tuổi/ tuần

Giờ Thứ 2, 4 Thứ 3, 5 Thứ 6, CN Thứ 7
6h Bú mẹ Bú mẹ Bú mẹ Bú mẹ
8h Cháo thịt lợn Cháo thịt gà Cháo thịt bò Cháo trứng
10h Chuối tiêu 1/2 quả – 1 quả Đu đủ: 200g Hồng xiêm 1 quả Xoài 200g
11h Bú mẹ Bú mẹ Bú mẹ Bú mẹ
14h Súp thịt bò khoai Súp đậu xanh bí đỏ Cháo tôm Cháo lạc
16h Nước cam* Nước cam* Nước cam* Nước cam*
18h Cháo cá Cháo lươn Cháo thịt lợn Cháo lươn

*: Cam 50 -100g ( nửa quả) và đường kính 5g ( 1 thìa cà phê)

Chú ý: từ 19h đến sáng hôm sau cho trẻ bú mẹ theo yêu cầu.

  • Nuôi trẻ từ 2 – 3 tuổi.

Giai đoạn này trẻ đã có đầy đủ răng vì vậy trẻ có thể ăn được cơm, nhưng ngoài các bữa cơm ăn chung với gia đình, trẻ cần được ăn thêm các bữa phụ như: Cháo, súp, bún, phở, sữa 2 – 3 bữa/ngày. Đối với những trẻ biếng ăn, ăn được ít cơm thì bữa phụ này lại rất quan trọng.

Số bữa ăn trong ngày của trẻ:

  • 2 bữa cơm nát ăn với các loại thức ăn chế biến từ thịt, cá, tôm, cua, trứng, lạc, vừng, đậu xanh và dầu mỡ…
  • 2 bữa: Cháo hoặc súp, bún, phở, mỳ, sữa…
  • Ăn hoa quả chín sau các bữa ăn theo nhu cầu của trẻ.

Một số điều cần lưu ý:

  • Chế biến thức ăn riêng cho trẻ và cần có sự quan tâm chăm sóc của mẹ hoặc người nuôi dưỡng.
  • Tuyệt đối không cho trẻ ăn các loại bánh, kẹo, nước ngọt, bim bim, bỏng ngô và các loại hoa quả ngọt trước  bữa ăn.

Mẫu thực đơn cho trẻ 2 -3 tuổi/ tuần

Giờ Thứ 2, 4 Thứ 3, 5 Thứ 6, CN Thứ 7
6h Sữa: 200ml

Bánh mì: 1/2 cái

Cháo thịt lợn: 1 bát con

Chuối tiêu: 1 quả

Phở thịt bò: 1 bát con

Phô mai: 15g

Đu đủ: 200g

Cháo thịt gà: 1 bát con

Quýt ngọt: 1 quả

Sữa chua: 100ml

11h Cơm nát: 1 lưng bát con

Đậu + thịt + trứng viên rán hoặc hấp

Canh cua mồng tơi rau đay

Chuối tiêu 1 quả

Cơm nát: 1 lưng bát con

Thịt viên sốt cà chua

Canh rau ngót nấu thịt nạc

Quýt ngọt 1 quả

Cơm nát: 1 lưng bát con

Trứng trộn thịt rán

Canh cá nấu chua

Rau muống xào

Dưa hấu 1 miếng 200g

Cơm nát: 1 lưng bát con.

Cá sốt cà chua

Canh cả nấu tôm

Xoài chín 200g

14h Sữa chua 100ml Sữa 200ml Sữa 200ml Phô mai: 15g
16h Cháo trứng 200ml Cháo gan 200ml Cháo thịt bò 200ml Cháo thịt cá 200ml
19h Cơm nát: 1 lưng bát con

Thịt bò xào giá

Canh rau ngót nấu thịt

Hồng xiêm 1 quả

Cơm nát: 1 bát con

Thịt nạc vai băm rim nước mắm

Canh cải nấu cá

Chuối tiêu 1 quả

Cơm nát: 1 bát con

Thịt nạc vai băm rim nước mắm

Canh cải nấu cá

Chuối tiêu 1 quả

Cơm nát: 1 bát con

Cà bung (cà tím, thịt nạc vai, đậu phụ)

Thịt nạc xào su su

Đu đủ 200g

21h Sữa 200ml Sữa chua 100ml Phô mai 15g Sữa 200ml
  • Nuôi trẻ từ 3 – 5 tuổi

Số bữa ăn trong ngày giống như cho trẻ từ 2 – 3 tuổi nhưng số lượng ăn trong 1 bữa cần tăng lên. Ở lứa tuổi này có thể nấu các món theo ý thích của bé. Tuyệt đối không cho trẻ ăn bánh kẹo, nước ngọt, bim bim và các loại hoa quả ngọt trước bữa ăn.

Mẫu thực đơn cho trẻ từ 3 – 5 tuổi/ tuần (như bảng mẫu thực đơn cho trẻ 2 – 3 tuổi/ tuần)

Một số câu hỏi hay gặp trong thời kì cho trẻ ăn bổ sung

  • Mẹ cần làm gì khi trẻ không chịu ăn bổ sung?

Việc cho bé ăn lúc đầu rất khó khăn vì phải làm quen với các thức ăn mới như: Thịt, cá, trứng, rau xanh, dầu mỡ, …bé lại đang quen bú mẹ và sữa ngoài, khi ăn bột, bé ăn bằng thìa với các thức ăn đặc hơn, vì chưa quen nuốt thức ăn, bé thường nhè ra, nhè vào, vì vây phải hết sức kiên nhẫn tập cho bé ăn, lúc đầu ăn ít vài ba thìa canh, sau tăng lên nửa bát và tăng dần lên 1 bát. Những bữa ăn đầu tiên nên nấu loãng hơn, nếu bé thích ăn sữa, có thể nấu bột sữa, bột phô mai cho bé, hoặc khẩu vị bé thích ngọt thì kể cả bột thịt vẫn có thể cho ít đường. Ở lứa tuổi này, mỗi ngày nên cho bé ăn 2 bữa bột (mỗi bát bột cs đủ 4 nhóm thực phẩm), mỗi tuần cho ăn 3 -4 lòng đỏ trứng gà, 2 – 3 bữa cua, lươn. Cho bé ăn hoa quả chín, sữa chua, phô mai. Ngoài ra, bé cần bú mẹ và uống thêm sữa ngoài nếu mẹ đi làm.

  • Có nên nấu bột cho trẻ bằng nước ninh xương?

Từ xưa nay, khi ông bà ta chưa biết khái niệm dinh dưỡng thì đã dạy con cái cách ăn đó là: “Khôn ăn cái, dại ăn nước”, điều đó xét về khía cạnh dinh dưỡng là đúng. Đó là vì tất cả các chất dinh dưỡng đều ở phần “cái” chứ không ở phần nước ninh, luộc. Thực ra trong nước thịt, nước xương ninh, hầm có chất nitơ làm cho nước có mùi thơm, ngon, kích thích thèm ăn nhưng lại rất ít chất đạm, chỉ có 0.6g/100ml và rất ít canxi khoảng 33.5mg/100ml. Ngoài ra còn có chứa nhiều axit béo no gây đầy bụng, khó tiêu, dễ bị tiêu chảy. Nước luộc rau chỉ có vitamin hòa tan trong nước (vitamin C, Vitamin B1) nhưng lượng không đáng kể. Trong những năm đầu đời, tốc độ phát triển về cân nặng và chiều cao của trẻ rất nhanh. Khi trẻ một tuổi cân nặng tăng gấp 3, chiều cao tăng gấp rưỡi so với lúc mới sinh. Do vậy, nhu cầu dinh dưỡng tính theo cân nặng của trẻ cao hơn người lớn. Từ 6 – 12 tháng tuổi, nhu cầu về chất đạm là 21 – 25g/ ngày, canxi là 400mg, sắt là 11mg/ngày. Như vậy, nếu chỉ luộc hoặc ninh thức ăn rồi lấy nước nấu bột cho trẻ thì không đảm bảo đủ chất, dẫn đến suy dinh dưỡng và nước xương hầm cũng không phòng được còi xương. Vì vậy cần cho trẻ ăn cả phần cái của thức ăn dưới các hình thức nghiền, xay hoặc băm nhỏ. Tất cả các thành phần dinh dưỡng như chất đạm, chất béo, canxi, phốt pho, sắt, kẽm, … đều nằm trong phần cái.

  • Tập cho trẻ ăn cơm như thế nào?

Ở trẻ 2 – 3 tuổi khi răng sửa mọc đã đủ thì có thể ngồi cùng mâm ăn cơm với gia đình. Trẻ không biết ăn cơm, thức ăn cứng là do trong thời kì ăn bổ sung, các bà mẹ thường không tập cho trẻ biết cách nhai mà thường hay sử dụng máy xay nhuyễn thức ăn, đều này vừa không có lợi cho sức khỏe mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển của răng. Động tác nhai nghiền thức ăn vừa giúp thức ăn dễ tiêu hóa, vì thức ăn khi qua miệng được thấm nước bọt có men Amylase giúp cho sự tiêu hóa, hấp thu tốt hơn, đồng thời tạo cho trẻ có hàm răng chắc khỏe. Vì vậy, cần dạy cho trẻ biết cách nhai, đảo và nuốt thức ăn. Đầu tiên,mẹ làm mẫu để trẻ quan sát và hướng dẫn cho trẻ, việc này đòi hỏi phải kiên trì và mất thời gian để tập quen dần. Tuy nhiên, đến nay, trẻ chưa biết ăn cơm và các thức ăn thì mẹ nấu cơm nát hơn, thịt, cá băm, xay hoặc giã nhỏ, rau thái nhỏ nấu mềm để trẻ dễ nhai, dễ nuốt, sau quen dần sẽ chuyển sang thức ăn cứng hơn. Trong một vài ngày đầu tiên do mới tập ăn, trẻ thường bị nôn, ọe nhưng sau sẽ hết nên mẹ đừng quá lo lắng quá. Do mới tập ăn cơm trẻ chưa ăn được nhiều, nên cho trẻ ăn xen kẽ các bữa, vừa ăn cơm vừa ăn cháo và cho ăn nhiều bữa hơn.

  • Trẻ có được ăn phủ tạng động vật?

Các loại phủ tạng động vật như: tim, gan, óc, thận có hàm lượng chất đạm, chất béo cao, đặc biệt là hàm lượng Cholesterol vì vậy ở người trưởng thành, người béo, người cao tuổi, người bị bệnh mạn tính như tim mạch, xơ vữa động mạch, rối loạn lipit máu không nên ăn vì làm tăng hàm lượng Cholesterol một trong những thành phần gây xơ vữa động mạch. Đối với trẻ em, khi cơ thể đang lớn và phát triển nhu cầu chất đạm, chất béo cao hơn so với người lớn. Chất béo động vật rất cần cho sự phát triển trí não và hệ thần kinh của trẻ, vì thế các chất béo này tuy có hàm lượng Cholesterol cao nhưng không ảnh hưởng tới sức khỏe của trẻ mà ngược lại trong tim, gan, thận, ngoài chất đạm có nhiều acid amin cần thiết, lại có nhiều sắt, kẽm, vitamin A rất tốt cho trẻ để phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng, vì vậy trẻ vẫn ăn được. Tuy nhiên, các phủ tạng rất dễ nhiễm khuẩn nên khi mua cần lựa chọn sao cho đảm bảo tươi, vệ sinh an toàn. Mỗi bữa ăn của trẻ không quá 50g, mỗi tuần nên ăn 2 – 3 lần. đối với trẻ bị thừa cân, béo phì thì nên hạn chế. Một điều qua trọng trong chế độ dinh dưỡng của trẻ là cần đa dạng, thường xuyên thay đổi món để cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *